Home ] Đại sứ ] Thông tin ] Persian ] English ]

  [Home] [Con người] [Lịch sử] [Nghệ thuật] [I ran ngày nay] [Du lịch] [Sưu tập ảnh]
 

ĐẤT NƯỚC

 
 

1. Giới thiệu sơ lược

Tên chính thức                : Cộng hoà Hồi giáo Iran

Thủ đô                           : Tehran

Tên quốc tế                    : Iran

Tên quốc tế cổ                : Ba Tư (Persia)

Ngày quốc khánh            : 11- 2 ( ngày 22 theo lịch Bahman Iran), là ngày thắng lợi của cuộc cách mạng Hồi giáo.

Dân số                            : 62,8 triệu (Theo số liệu tháng 3 năm 2000)

                                      (nam: 31,9 triệu, nữ: 30,943 triệu

                                      dân cư thành thị: 39,8 triệu, dân cư nông thôn: 23 triệu)

Tỉ lệ tăng trưởng dân số  : 1,6%

Mật độ dân cư                : 38 người / km vuông

Dân cư lao động              : 17,9 triệu

Tỉ lệ biết chữ                  : Từ 6-29 tuổi        : 96,3%

                                            29 tuổi trở lên   : 83%

Tỉ lệ tăng trưởng thu nhập quốc nội: 5,9% (theo số liệu tháng 3 năm 2001)

Tổng số trường học        : 113 704 trường

Đội ngũ giảng dạy           : 628 574 giáo viên

Tổng số học sinh            : 18,599 triệu

Tổng số sinh viên đại học: 1,45 triệu

Các thành phần kinh tế    : Nông nghiệp: 24,8%; Dầu lửa: 13,7%; Công nghiệp và  khai khoáng: 22,3%; các dịch vụ: 39,4%

Chăm sóc sức khoẻ:

Tuổi thọ                          : 70,6 tuổi

Số giường bệnh/ 100000 người: 166

 

2. Quốc kỳ Iran:

          Gồm có ba dải ngang bằng nhau màu xanh lá cây (ở trên đỉnh), màu trắng và đỏ; quốc huy( một dạng cách điệu của chữ Allah) bằng màu đỏ được đặt chính giữa dải trắng: ALLAHO AKBAR(Thánh Allah vĩ đại nhất) bằng chữ Arab màu trắng được lặp lại 11 lần dọc mép dưới dải xanh và 11 lần dọc theo mép trên của dải đỏ, tổng cộng là 22 lần để thể hiện ngày 22 tháng Bahman, ngày chiến thắng  Cách mạng Hồi giáo Iran.

National Anthem (MP3)

 3. Các đơn vị hành chính:

          Iran được chia thành 28 tỉnh, 252 thị xã và 680 huyện. Mỗi tỉnh do một Toàn quyền cai quản, mỗi thị xã do một thống đốc và mỗi huyện do một huyện trưởng lãnh đạo. Tỉnh Kharasan, với diện tích 313000 km vuông là tỉnh lớn nhất và các tỉnh  Gvilon, Goleston, Qazvin, Qom nằm trong số những tỉnh nhỏ có diện tích dưới 15000 km vuông.

Các đơn vị hành chính:

    

Thủ phủ

 

Tỉnh

Thủ phủ

1. Ardabi

Ardabil

 

15. Khuzestan

Ahwaz

2. Bushehr

Bushehr

 

16. Kohkiluy-e & Boyer Ahmad

Yasuj

3. Chahar Mahal & Bakhtiari

Sharh-e Kord

 

17. Kudestan

Sanandaj

4. Đông Azarbaijan

Tarbiz

 

18. Lurestan

Khorramabad

5. Esfahan

Esfahan

 

19. Markazi

Arak

6. Fars

Shiraz

 

20. Mazandara

Sar

7. Golestan

Golestan

 

21. Qazvin

Qazvin

8. Guilan

Rasht

 

22. Qum

Qum

9. Hamadan

Hamadan

 

23. Semnan

Semnan

10. Homozgan

Bandar-e Abbas

 

24. Sistan & Baluchestan

Zahedan

11. Ilam

Ilam

 

25. Tehran

Tehran

12. Kerman

Kerman

 

26. Tây Azarbaijan

Orumieh

13. Kemanshah

Kemanshah

 

27. Yazd

Yazd

14. Khorasan

Mashad

 

28. Zanjan

Zanjan

4. Địa lý

Đất đai:

          Iran là một đất nước rộng lớn với hình dáng một con mèo đang ngồi, nối từ 25 tới 40 độ về phía Bắc, 44 tới 63 độ về phía Đông phần chính giữa của Trung Đông, có diện tích là 1648195 km vuông, giáp ranh với 13 nước láng giềng có cùng chung đường biên giới đất liền hoặc biển.

          Iran  có đường biên giới với Irắc dài 1609 km về phía tây, với Thổ Nhĩ Kỳ  về phía tây bắc (486 km), với các nước Cộng hoà Armenia, Azarbaijan, Turkamanistan (tất cả những phần thuộc Liên bang Xô Viết cũ), cũng như vùng biển Caspia (2670 km) về phía bắc. Về phía đông, Iran giáp Afghanistan (945 km), về phía đông nam là đường biên giới với Pakistan dài 978 km, vùng Vịnh Ba Tư (1259 km) và biển Oman (784 km) ở phía nam. Vịnh Ba Tư là vùng vành đai nông của ấn Độ Dương nằm giữa Bán đảo ả Rập và vùng tây nam Iran. Vùng biển này có diện tích rộng tới 240000 km vuông kéo dài từ đồng bằng châu thổ Arvand Rud (Shatt ol- Arab) tới eo biển Hormoz, eo này nối Iran với biển Oman. Nó có chiều dài 900 km, và chiều ngang thì xê dịch từ tối đa là 338 km tới 55 km ở vùng eo Hormoz. Nó giáp ranh với Iran ở phía bắc, tây bắc và phía đông, với Irắc phía đông và đông bắc, với ả rập Xê út và Qatar phía tây, tây nam và với các Tiểu vương quốc ả Rập thống nhất và một phần Ô man về phía nam và đông nam.

Đảo:

          Không kể Bahrain, đảo lớn nhất thuộc về Iran tới đầu nửa sau thế kỷ 20, Iran có nhiều đảo nhất trong vùng Vịnh Ba Tư, những đảo quan trọng nhất xếp theo thứ tự như sau: Minoo, Kharg (nơi trung chuyển dầu của Iran, dài 6 km, rộng 3 km, là một trong những cảng dầu nước sâu lớn nhất thế giới, và được nối với đất liền bằng đường ống dẫn dầu dài 40 km), Sheikh Sa’ad, Sheikh Sho’ayb, Hendurabi, Kish  (đảo lớn nhất của Iran ở vùng eo Hormoz, diện tích là 1300 km vuông), Farur, Siri, Abu Mussa, các đảo Tumb lớn và nhỏ, Qeshm, Hengam, Larak, Farsi, Hormoz, và Lavan. Các cảng trọng yếu nhất của Iran ở vùng Vịnh Ba Tư là: Abadan, Khorramashahr, Bandar-e Imam Khomeni (trước đây là Shalpur), Mashahr, Deilam, Genaveh, Rig, Bushehr, Bandar-e Lengeh và Bandar-e Abbas.

Sông ngòi:

          Một số sông chảy trong vùng đất liền của Iran trong số đó con sông duy nhất mà tàu bè có thể qua lại là sông Karun (dài 920 km). Các con sông lớn khác là: Sông Atrak (dài 535 km), Dez (515 km), Hendijan (488 km), Jovein (440 km), Jarahi (438 km), Karkheh (755 km), Mand (685 km), Qara Chai (540 km), Sefud Rud (795 km) và Zayandeh Rud (405 km).

          Vào mùa hè, có ít lưu lượng nước trong các dòng sông ở đất liền. Tuy nhiên, các dòng nước chảy ngầm lại có các cửa sông ở những kênh nước ngầm (tiếng địa phương gọi là Qanat) và các dòng suối được đào giếng phun.

Núi non:

          Dãy núi cao Alborz ở phía Bắc, dãy núi Zagros ở phía Tây và Tây Nam cũng như các núi phía Đông của Iran  bao quanh Cao nguyên Iran, tạo cho Iran địa thế núi non hiểm trở.

Khí hậu:

.

          Các vùng núi của Iran nói chung có đặc trưng là mùa đông lạnh và mùa hè ôn hoà. Không khí thường khô, ngoại trừ vào mùa mưa ngắn. Mùa đông dài ở những vùng núi cao hơn kéo dài sáu tháng đến tận cuối xuân. Tại độ cao hơn 2000m trên mặt nước biển, xung quanh núi Damavand, nhiệt độ thấp nhất trong tháng giêng đo được là -12C. Tuy nhiên, ở Saghez, Kurdistan, tháng hai năm 1972, nhiệt độ thấp nhất tới mức kỷ lục được ghi lại là -360C. Trong mùa hè ngắn ở những vùng như thế này, nhiệt độ tối đa hiếm khi vượt quá 360C và thường hạ xuống 100C vào ban đêm.

          Ngoại trừ vùng ven biển Caspia, các vùng đất thấp thường có đặc trưng là thời tiết khô, nhiệt độ hàng ngày trong năm cao thay đổi từ 0 tới 550C. Điểm nóng nhất là ở miền trung hoặc Bắc Khuzestan, với nhiệt độ ban ngày mùa hè hiếm khi hạ dưới 450C.

          Tại các vùng ven biển Caspia, nhiệt độ vừa phải với nhiệt độ hàng ngày và hàng năm thấp trong khi độ ẩm thì cao và mưa nặng hạt. Nhiệt độ trung bình ở vùng này dao động từ 260C mùa hè tới 70C mùa đông.

          Các đồng bằng ven biển phía Nam thì nóng và ẩm quanh năm. Nhiệt độ cao nhất ở Khuzestan thường vượt quá 550C, trong khi ở vùng bờ biển Oman với độ ẩm thường xuyên 86%, nhiệt độ chỉ quanh 380C. ở những vùng này, nhiệt độ chưa bao giờ xuống dưới điểm đóng băng. Nơi đây, mùa hè dài và nóng trong khi mùa đông ấm áp và ngắn.

Thực vật và động vật:

          Địa hình, độ cao so với mực nước biển, nguồn nước và thổ nhưỡng quyết định đặc trưng của thực vật và động vật nơi đây. Khoảng 11% diện tích Iran là rừng, nhiều nhất là ở vùng Caspia. Tại đây, ta thấy có những loài cây lá rộng, to khoẻ, rụng lá về mùa thu, thường là cây sồi, bồ đề, du, óc chó, tần bì, cũng như một số ít loài cây vạn niên thanh lá rộng.  Ngoài ra, cũng có nhiều các loại cây bụi có gai và dương xỉ.

          Dãy núi Zagros phủ đầy rừng sồi bán ẩm, cây thích du, cây sếu, óc chó, lê và hồ trăn. Cây liễu, cây bạch dương, cây tiêu huyền và nhiều loại cây leo mọc ở các khe núi. Những nhánh mảnh dẻ của cây đỗ tùng, cây trái hạnh, berbery (một bụi cây thân gai hoa vàng), cotoneaster (một loại cây bụi xa xưa thuộc họ hoa hồng), và những cây quả dại mọc trên nền cao nguyên khô ở giữa. Các cây bụi gai hình thành nên lớp đất phủ cho các thảo nguyên, trong khi cây artemisia (một loại cây ngải tây) mọc ở triền cao trung bình của các vùng sa mạc và vùng thôn quê trập trùng.

          Các cây keo, cây cọ lùn, cây kunar (cây gai Jerusalem), và những bụi cây lan dưới độ cao 3000 feet. Các đụn cát sa mạc giữ nước nuôi dưỡng các bụi cây. Rừng là nơi các dòng nước mặt và nước ngầm chảy. Các ốc đảo sa mạc là nơi sinh trưởng của tamarisk, bạch dương, chà là, cọ, cây mia (thuộc họ sim), trúc đào, keo, liễu, du, mận, dâu và nho. ở những vùng đầm lầy, lau sậy và cỏ tạo thành thảm cỏ.

 

 
 
 
 
 
   
 

[Đại sứ quán] [Chính trị] [Lãnh sự] [Kinh tế] [Văn hoá] [Du lịch] [Giới thiệu về I ran] [Kết nối với I ran] [Nói tiếng Ba Tư]